Những công hạnh của Đức Bairo Rinpoche - Bậc Hóa thân của Đại dịch giả Vairocana (Phần 4) | Drukpa Việt Nam

Bạn đang ở đây

Những công hạnh của Đức Bairo Rinpoche - Bậc Hóa thân của Đại dịch giả Vairocana (Phần 4)

6
31/03/2026 - 21:51

Cha tôi đã đưa ra ba quy tắc căn bản trong tự viện, tu học và suy ngẫm về cả truyền thống Kim Cương thừa mới và cũ, truyền thống Dorje Drak còn nguyên vẹn của ngoại nghi quỹ Quan Âm làm một phần của thực hành thiền định, pháp thực hành Thượng sư Tam diện An bình và Uy mãnh - tinh túy khai thị của Đức Gyalwa Kathokpa gồm các vũ điệu linh thiêng của thực hành Bồ đề tâm và tiêu trừ các chướng ngại, kiến lập mandala, làm bánh cúng dường torma, kết ấn thiền định… Nói tóm lại, Ngài đã truyền trao trọn vẹn nội dung thực hành chân thực của truyền thống Zhichen, làm cho Bairo Ling trở thành một tự viện kiểu mẫu.


Tự viện Zhichen Bairo Ling Monastery (khu vực gần Tháp Boudhanath, Kathmandu - Nepal)

Cha tôi cũng thiết lập Trung tâm Nhập thất Zhichen mới trên Núi Druk Amitabha. Tại đây, Đức Pháp Vương Kathok Moktsa và cha tôi đã đích thân ban truyền giáo pháp khai thị, tựa như rót trọn vẹn từ bình này sang bình khác, về pháp tu mở đầu về khí, kinh mạch và pháp thực hành đích thực của thiền nhất tâm và thực hành tịnh quang của truyền thống Dui-Long - tinh tuý của giáo pháp khẩu truyền và Bảo tạng - tới những đệ tử chí thành nhất tâm thực hành thiền định. Trong số đó có thể kể tới Lopon Rinchen Ngodup từ Nima Lung, Bhutan, người đã công phu nhập thất 3 năm 3 tháng. Thường thì cha tôi vừa là bậc thầy khai thị vừa làm trợ giảng, đưa ra những hướng đạo sắc bén cho các hành giả phát tâm nhập thất. Các học trò của Ngài, “cưỡi ngựa chí thành, quất roi xả bỏ,” cho tới nay đã nhập thất tại nơi đây được hơn 10 năm.

Sống trong khí hậu nóng và lạnh của Delhi và chỉ có một vài vị tăng hỗ trợ, cha tôi đã ấn tống các văn bản Truyền thừa Khẩu truyền và Bảo tạng như các tuyển tập khai thị thực hành của Duddul Dorje và Longsel. Vào thời điểm đó, Kinh sách rất hiếm nên việc phân phát miễn phí cho các tự viện thuộc mọi truyền thống là vô cùng quý giá. Cha tôi vẫn nói trong số những thiện hạnh đã làm, điều Ngài hoan hỷ nhất là việc ấn tống và phát hành những kinh sách này để bảo tồn Giáo pháp.

Cha tôi truyền quán đỉnh, ban khẩu truyền và giáo pháp về Truyền thống Khẩu truyền và Kinh Tạng như Dui-Long, Longchen Nyingthig and Rinchen Terdzoe một vài lần ở Bhutan, Nepal và những nước khác. Ngài cũng nhiều lần cầu thỉnh anh trai mình là Đức Pháp Vương Kathok Moktsa Rinpoche ban giáo pháp và quán đỉnh cho các bậc Hoá thân, Giáo thọ, chư tăng ni và đệ tử chí thành. 

Cũng như các công hạnh mà thành tựu giả Rigzin Tshewang Norbu đã thực hiện trong quá khứ, cha tôi đã đóng góp rất nhiều thiện hạnh cho Truyền thừa Drukpa. Ngài trùng tu tự viện Hemis và Chemdrey Thekchok, trụ xứ của Ngài Je Staktsang Raspa và phục dựng nhiều tự viện nhỏ và vừa ở Ladakh. Mọi người đều biết rằng cha tôi đã thúc đẩy xây dựng ngôi trường Druk Padma Karpo (Bạch Liên) ở Shey, Ladakh và từng làm việc ngày đêm để hoàn thành dự án xây dựng này. Ngài cũng gánh vác nhiều trọng trách, từ việc tìm đất xây dựng cho Tự viện Núi Druk Amitabha hiện nay, ba lần đứng ra trình bày và cuối cùng là hướng đạo chư tăng ni ở đây trên con đường tìm kiếm hạnh phúc  giác ngộ trong đời này và đời sau. Ngài tham gia vào mọi mặt của việc phát triển trụ xứ và quần thể tâm linh Tự viện Núi Druk Amitabha, từ việc thiết kế kiến trúc và mỹ thuật bên ngoài, an vị tháp trên mái, lên kế hoạch yểm tháp cho tới các việc nhỏ nhặt như thiết kế các công trình phụ trợ. Ngài hướng đạo trong việc đặt ra quy tắc ứng xử và uy nghi của Tăng đoàn, tìm nguồn tài trợ, cho tới hướng dẫn những điểm thiết yếu về kinh nghiệm thiền định.


Đức Bairo Rinpoche và Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa ở Darjeeling

Sau hơn 40 năm thực hành công hạnh giác ngộ tại các vùng miền khác nhau trên dãy Himalaya, cha tôi được mời về thăm lại mảnh đất quê hương. Ngài đã thăm viếng khoảng 20 tự viện cũ của mình, ban tặng pháp khí, tài bảo và tất cả những hướng dẫn cần thiết cho chư Tăng nơi đây. Ngài cũng hỏi về vũ điệu Kim Cương thừa, nghệ thuật làm torma, kiến lập mandala, các pháp thực hành, nghi quỹ Kim cương Thừa và thực hành thiền định đã bị mai một do ảnh hưởng của lịch sử. Khi Ngài bàn luận và dạy hơn 100 bước của vũ điệu Kim Cương Thừa để hồi sinh những vũ điệu với một số vị tăng cao niên, các bậc Hoá thân và Giáo thọ thấy kinh ngạc vì sau hơn 40 năm mà cha tôi vẫn nhớ truyền thống cổ xưa một cách rõ ràng. Điều này làm họ cảm động ngỡ ngàng đến mức nhiều người bật khóc. Điều đáng ngạc nhiên là thông thường Ngài không tỏ ra quan tâm nhiều đến việc đọc hay chỉnh sửa các tài liệu liên quan đến các truyền thống xưa cũ.

Khi tôi còn nhỏ, cha tôi thường xử sự như một hành giả yogi ẩn danh và đi xe đạp cùng tôi. Biết tôi thích ngựa, Ngài chặn giữ những chú ngựa hoang trên núi, đặt tôi lên lưng chúng và dắt đi loanh quanh. Chúng tôi thường chơi đá bóng với nhau và tôi còn nhớ khi đám trẻ chúng tôi đã mệt nhoài nằm lăn trên thảm cỏ thì Ngài vẫn tràn đầy năng lượng và luôn quan tâm tới sức khỏe của các cầu thủ trẻ. Giờ đây, khi hồi tưởng lại, tôi cảm nhận mọi hành động của Ngài từ trước đến giờ đều phản ánh lời thệ nguyện của Đức Quan Âm: “Làm mọi điều lợi ích cho chúng sinh hữu tình”.

Cha tôi giả như không biết chức trách của một bậc thầy Kim cương như truyền giảng các vũ điệu Kim cương, kiến lập hay vẽ mandala… Một lần, tự viện của tôi tổ chức một khóa tu và tôi nghe thấy vị chủ sám ở tự viện trình bày cho cha tôi về các công việc của bậc thầy Kim cương. Việc này cũng giống như chuyện tương tự cũng đã từng xảy ra với Đức Dza Patrul. Một lần Đức Kim Cương Trì Dza Patrul đang đi du phương như một hành giả yogi ẩn danh thì gặp một vị tăng cao niên ở chùa làng và vị này đã nói với Ngài: “Tại sao một người trẻ và thông minh như anh lại lãng phí thời gian của mình như vậy? Anh phải đọc cuốn Lời Vàng của Thầy Tôi (chính là cuốn sách do Đức Dza Patrul trước tác)” và rồi vị tăng cao niên cố giải thích những lời khai thị trong đó cho Ngài. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy cha tôi trình diễn vũ điệu Kim cương, kiến lập hay vẽ mandala. Chắc hẳn Ngài đã làm tất cả những việc này trong khi ban quán đỉnh. Tuy vậy, Ngài có một trí nhớ hoàn hảo. Đây là phẩm chất vô cùng quý giá bởi xét từ góc độ trải nghiệm cá nhân, nếu tôi không thực hành những pháp đã biết ít nhất mỗi năm một lần thì tôi sẽ quên hết. Cha tôi còn có lối sống rất vui vẻ vô tư. Tôi tin rằng “bậc hành giả yogi cởi mở và vui tươi” như mô tả trong khai thị của truyền thống Đại Toàn Thiện là một người giống như cha tôi, bậc có trí tuệ hiểu biết thực tại của vạn pháp, đã nhìn thấy và thấu hiểu sự hóa hiện của vạn pháp rõ như lòng bàn tay.

Sau đó, khi tôi thụ nhận giáo pháp từ Đức Kyabje Trulshik Rinpoche đời trước thì Ngài nói: “Tôi không trực tiếp quen Đức Bairo Rinpoche nhưng tôi nhớ Phụ thân Ngài thường tới thăm Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche. Tôi nhớ Ngài có vóc dáng cao với nước da sẫm màu. Đức Pháp Vương nói với tôi rằng Bairo Rinpoche không chỉ là một Đại hành giả của truyền thống Đại Toàn Thiện mà còn là một Bậc phát lộ kho báu. Ngài có biết kho báu Mật tạng nào mà Bairo Rinpoche từng phát lộ không? Ngài có được cho xem gì không?” Tôi nhớ lúc đó mình đã trả lời: “Tôi chưa từng được xem Mật tạng được phát lộ nào và cho đến hôm nay mới được biết cha tôi là một Bậc phát lộ kho tàng Mật điển”. Nghe vậy, Đức Trulshik Rinpoche chắp tay biểu lộ sự tôn kính và tán thán: “Đó chính là cách hành xử của một hành giả vĩ đại ẩn danh”.

Viết bình luận

Chúc mừng năm mới
Số lượt truy cập: 3,272,171
Số người trực tuyến: