Bạn đang ở đây
Những công hạnh của Đức Bairo Rinpoche - Bậc Hóa thân của Đại dịch giả Vairocana (Phần 1)
“Hoá thân Đại dịch giả Lotsawa Vairocana,
Tuệ nhãn Siêu việt hộ trì Thế gian,
Thời mạt pháp chẳng từ nan,
Trì giữ giáo pháp vinh quang rạng ngời
Jamyang Tenpai Gyaltsen, thỉnh Ngài trụ thế dài lâu!”

Những lời kệ tán thán này do Đức Kim Cương Trì Vajradhara Jamyang Khyentse Choekyi Lodoe, hóa thân của Đức Văn Thù, viết để cầu nguyện trường thọ cho phụ thân của tôi, Bậc Hộ trì quy y Zhichen Bairo Rinpoche. Những lời tán thán này ấn chứng rằng cha tôi là một hoá thân của Đại dịch giả Vairocana. Về mặt sự tướng bên ngoài thì Đức Zhichen Bairo Rinpoche là phụ thân của tôi trong đời này, nhưng bản thân Ngài trong hiện đời cũng đã thực hiện vô số công hạnh bằng những phương tiện thiện xảo vì lợi ích chúng sinh. Không nghi ngờ gì Ngài chính là Đại dịch giả Vairocana. Ví dụ như mọi người đều có thể nhìn thấy một nốt ruồi đen trên chóp mũi của Ngài. Khi còn nhỏ, tôi thường nghịch ngợm xoa nốt ruồi đó. Một hôm, Ngài hỏi tôi: “Có một chữ chủng tử AH ( ཨཱཿ ) trên chóp mũi của ta. Con có thấy không?” Tôi nói không thấy và Ngài dạy tôi hãy thử nhìn lại. Tâm trẻ thơ vốn trong sáng không vướng bận hy vọng và sợ hãi, và tôi nhớ mình đã nhìn lại và thấy rõ một đốm trắng nhỏ xíu hình chữ AH ( ཨཱཿ ) trong nốt ruồi đó. Chữ chủng tử đặc biệt đó nêu biểu ánh sáng nguyệt quang biến chiếu, hiện thân tự nhiên từ đại hỉ lạc của khẩu giác ngộ nơi Báo thân, ứng hiện trong hình tướng chữ chủng tự AH ( ཨཱཿ ) sắc trắng. Những chúng sinh thường tình, do chưa đủ tâm chí thành thanh tịnh để nhận ra Báo thân Phật, thường không có thiện duyên để nhìn ra những điều cát tường như thế. Vì thế, những gì tôi được tận mắt thấy vào thời điểm đó thật tuyệt vời và phi thường. Việc này cũng giống như lần đầu tiên Ngài Vô Trước thấy Đức Phật Di Lặc trong hình tướng một chú chó bị bệnh với phần thân dưới lở loét. Đức Di Lặc dạy hãy kiệu Ngài trên vai đi vào chợ để xem mọi người phản ứng như thế nào. Duy nhất chỉ có một bà cụ nhìn thấy Ngài Vô Trước đang kiệu một con chó bị bệnh với phần thân dưới lở loét và trách mắng Ngài vì việc làm đó. Những người khác thậm chí còn không nhìn thấy con chó trên vai Ngài Vô Trước. Vì vậy tôi nghĩ rằng chúng ta không nên vội bác bỏ ngay những điều phi thường như vậy. Khi tôi lớn hơn, cha tôi chưa bao giờ nói tôi nhìn lại và tôi cũng không thử nhìn lại nốt ruồi đó. Một lần tôi nhắc lại chuyện đó, Ngài lập tức bỏ qua đề tài này bằng câu nói: “Không có gì đáng kể về chiếc mũi đen đúa của ta cả”. Ngài thường khiêm cung không thích đề cập tới những chủ đề như vậy.

Cha tôi được thụ nhận giáo pháp từ các bậc Thượng sư lỗi lạc như Đức Kathok Getse Rinpoche Gyurme Tenpa Namgyal, Tulku Kunsang Nima, Yukhog Jadrel Choying Rangdrol, Ninling Khen Rinpoche, Chung Rinpoche, Jamyang Khyentse Choekyi Lodoe, Dudjom Yeshe Dorje, Lhodrak Namkhai Nyingpo, Khenchen Gyaltsen Woeser, Khenchen Dorje Pal Sangpo (còn có hồng danh Pomda Khen Rinpoche) và rất nhiều bậc thầy phẩm hạnh khác. Cha tôi đã viên mãn tâm nguyện của các bậc Thượng sư bằng cách nghiêm cẩn tuân theo lời dạy của các Ngài.
Cha tôi sinh năm 1933 tại hạt Onpo Koe Tashi Teng gần Kathok ở vùng Derge (Đông Tạng). Ông nội tôi là Pema Thabkhe, một người giỏi cả các vấn đề tâm linh và thế gian, và bà nội tôi là Tsheting Tsho. Năm lên 8 tuổi, cha tôi được Đức Jamyang Khyentse Choekyi Lodoe ấn chứng là một hóa thân của Đại dịch giả Vairocana, và sau này mọi người thường gọi ông bằng hồng danh tôn kính là Bairo Rinpoche.

Dấu chân thành tựu cha tôi để lại trên phiến đá ở Kathok Dorjeden và thanh kiếm mà Ngài đã buộc thắt nút ngày nay vẫn còn ở đó để mọi người chiêm bái. Một dấu chân khác Ngài để lại khi còn nhỏ, trông rõ như in trên đất sét, được trưng bày tại Chính điện của tự viện Zhichen. Dù đã được chiêm bái dấu chân sen của Đức Liên Hoa Sinh và nhiều bậc thượng sư giác ngộ khác, tôi chưa thấy dấu chân nào rõ nét như dấu chân này. Cha tôi cũng từng thắt nút một thân cây mọc trước tự viện.
Một lần khi còn trẻ, cha tôi nói với các thị giả là Ngài sẽ một mình sang chơi ở ngọn đồi phía trước và họ hãy dừng chờ một lúc. Sau khi chờ một lúc lâu, băn khoăn không hiểu Ngài đang làm gì, các vị thị giả liền đi tìm và thấy Ngài vừa dùng que khắc xong trên đá hình một vỏ bạch ốc và đang khắc dở hình một cái trống. Khi thấy các thị giả, Ngài than: “Giờ thì ta không hoàn thành được bức vẽ rồi”, rồi Ngài bỏ đi với vẻ bực bội. Đến tận ngày nay, hình vỏ bạch ốc và một nửa chiếc trống vẫn còn đó để chúng ta chiêm bái. Một lần khác, Ngài nghịch ngợm ném chiếc gậy đi bộ của mình lên một tảng đá trên con đường vòng quanh tự viện Ser Gonpo Drongri. Chiếc gậy rơi xuống và cắm trên tảng đá như cắm vào đất sét. Người dân địa phương coi chiếc gậy như một linh vật của đức tin và sự gia trì, và họ thường cố với tay xoa lên chiếc gậy. Ngày nay, những người hành hương vẫn có thể nhìn thấy phần còn lại của chiếc gậy tại nơi này.
- 15 reads









