Bạn đang ở đây

Giải thích thuật ngữ
Các khái niệm Mật thừa - Kim Cương thừa
A B C D E F G H J K L M N O P R S T U V W Y
Varanasi
còn được biết là Benares; một thành phố nằm bên bờ Tây của sông Hằng ở Uttar Pradesh, Ấn Độ. Bảo tháp Dhamekh ở Sarnath, một địa điểm trong Vườn lộc uyển Deer nơi đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng lần đầu tiên và bảo tháp Chaukhandi để tưởng nhớ cuộc gặp của đức Phật với những đệ tử đầu tiên của mình, được đặt ở Varanasi.
Fourteen Root Downfalls
Mười bốn lỗi phạm giới căn bản – lỗi bể giới nguyện Mật thừa; cụ thể: lời nói hoặc hành vi làm tổn hại đến bậc Thầy hoặc Thượng sư của mình hoặc khởi tà kiến đối với các Ngài; đi ngược lại giáo pháp của Đức Phật hoặc làm trái với sự hướng đạo của Thượng sư; khởi những phiền não ác ý tiêu cực đối với chúng sinh, đặc biệt với huynh đệ Kim Cương trong Tăng đoàn; từ bỏ thái độ và việc thực hành lòng từ đối với chúng sinh, buông thả trong sự ham muốn dục vọng và từ bỏ Bồ đề tâm, lạm dụng truyền thống, truyền thừa và tôn giáo khác với động cơ danh lợi muốn người khác tôn trọng mình; tiết lộ những bí truyền Mật thừa với những người chưa đủ căn cơ chín mùi dẫn đến sự lầm lạc với giáo pháp, tổn hại thân người quý giá của người khác và mình, nghi ngờ chân đế tuyệt đối; lỗi kiềm chế hành động khi cần thiết do sợ những hậu quả ngoài ý muốn phát sinh từ năng lượng tiêu cực của những hành động này, chẳng hạn như không cứu giúp người khác dù có khả năng làm điều này; khởi nghi ngờ liên quan tới ý nghĩa của Như thị, gây phiền nhiễu động niệm đến sự tập trung thiền định của người khác; né tránh thực hiện một số phép tắc cư xử thích đáng, ví dụ như từ chối tuân theo các pháp thực hành cần thiết và phù hợp, chẳng hạn nếm rượu và thịt là những thứ được cúng dường trong thực hành Ganachakra mỗi khi và mỗi lúc điều này được yêu cầu; lạm dụng hoặc coi thấp phụ nữ.
Four Noble Truth
Tứ diệu đế - khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế.
Four Immeasurable Thoughts
Tứ vô lượng tâm – giới nguyện của Bồ tát, cụ thể: từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỉ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm.
doha
tiếng Tạng là gur, một chứng đạo ca dưới dạng thơ, được soạn và hát bởi một hành giả Mật thừa đã thành tựu chứng ngộ.
doha
tiếng Tạng là gur, một chứng đạo ca dưới dạng thơ, được soạn và hát bởi một hành giả Mật thừa đã thành tựu chứng ngộ.
Avalokiteshvara
Đức Quan Thế Âm còn được nhắc tới dưới hồng danh Padmapani (Đấng Thủ Trì Liên Hoa) hay Lokeshvara (" Đức Quan Âm" ) hay Chenrezing theo tiếng Tạng. Đúng như hồng danh của Ngài, Ngài là " Bậc Đại Bi Quan Thế Âm". Ngài đã phát đại nguyện luôn lắng nghe lời khẩn cầu của hết thảy chúng sinh trong lúc khổ nạn. Để hoàng thành đại nguyện này, Ngài còn phát nguyện thêm rằng Ngài sẽ không nhập Niết bàn cho tới khi chúng sinh đều được giải thoát khỏi luân hồi không còn sót một ai. Do tâm nguyện Đại bi này, Ngài được coi là hoá thân của Tâm Đại bi. Ngài hoá hiện dưới các hình tướng khác nhau, một số pháp tướng hiền hòa như Aryavalokiteshvara ("Linh cảm Quan Thế Âm" tức hiện thân căn bản) Ekadashamukha ("Thập Nhất Diện Quan Thế Âm" với thêm khuôn mặt giảng Pháp cho mười phương) ;Sahasra-bhuja Sahasra-netra (“Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm" chiếu soi và hộ trì cho hết thảy chúng sinh); Citamani-chakra (“Như Ý Quan Âm" là Bậc Trì Giữ Bảo Châu Như Ý ") và một vài pháp tướng phẫn nộ như Hayagriva (Mã Đầu Quan Âm với khả năng chữa lành bệnh và đặc biệt là loại bệnh gây ra bởi loài thần rắn Nagas) và Hộ Pháp Mahakala (" Đại Hắc" một hộ pháp phẫn nộ). Bậc Đại thành tự giả Ấn Độ Naropa cùng các hóa thân của Ngài bao gồm Đức Gampopa và các hóa thân chuyển thế của Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa được tín ngưỡng là hóa thân chân thực của Đức Phật Quan Âm.
Avadhuti
Kinh mạch chính - Kinh mạch trung ương, kinh mạch vi tế của thân thể chạy từ đốt xương cùng tới đỉnh đầu.
Atma
Bản ngã hay Atman, nghĩa đen là " tự ngã" hay "ngã". Đây là nền tảng của luân hồi và gốc của mọi đau khổ bắt nguồn từ vô minh.
Atisha
Atisha (980-1054), một học giả Ấn Độ đã tới thăm Tây Tạng và trở thành một trong những nhân vật chủ chốt kiến lập nên Truyền thừa Sarma tại Tây Tạng sau khi Phật giá bị đàn áp bởi Vua Langdarma (841-906). Ngài được coi là người sáng lập ra trường phái Kadampa về sau phát triển thành dòng Gelugpa.
Asura - A tu la hay Á Thiên
Một trong sáu cõi luân hồi. Họ giống với chư Thiên song thuộc cảnh giới thấp hơn và thường xuyên gây hấn với chư Thiên vì ghen tỵ
Asanga
(300-370) Người luận giải chính của trường phái Duy Thức, Ngài và người anh cùng cha khác mẹ là Vasubandhu được coi là những người sáng lập của tông phái này. Thoạt tiên Ngài tu theo Tiểu thừa sau đó chuyển sang Đại thừa. Sau nhiều năm thiền định miên mật, Ngài đã diện kiến Đức Phật Di Lặc tương lai tại núi Kê Túc (tại Jizu Shan tỉnh Yunnam, Trung Quốc) và thườnglên cõi trời Đâu Suất để đón nhận giáo pháp từ chính Đức Phật Di Lặc.
Arya
Thánh nhân - nghĩa đen là " cao quý" hay " tuyệt hảo" thường được dùng để đề cập tới các bậc chứng ngộ hoặc linh thiêng đã thấu đạt Chân lý tuyệt đối và có thể siêu việt luân hồi.
Arhat
A La Hán nghĩa đen là " người phá ác" người đã đạt được cảnh giới Niết bàn bằng cách loại bỏ mọi cảm xúc phiền não và ám chướng như tham, sân, ảo tưởng, vô minh và tham ái và vì thế không còn bị sinh tử luân hồi ràng buộc. Mục tiêu rốt ráo của các A La Hán là tự giác (tự giải thoát). Đây chính là mục đích của giáo lý Nguyên thủy.
Anuyoga Tantra
Cấp độ thứ ba của Tantra trong đó ít chú trọng về chân lý tương đối (Tục đế) mà chú trọng hơn về tri kiến chân lý tuyệt đối (Chân đế). Ở cấp độ này, hành giả phải phát triển Bồ đề tâm và thọ Bồ tát giới, nếu không sẽ không thể tiếp tục tu tập. Pháp tu này đối trị trực tiếp với ảo tưởng và phiền não khiến chúng có thể chuyển hóa thành Ngũ trí.
PAGE of 27 ( 393 TOTAL RECORDS)

Trang

Chúc mừng năm mới
Số lượt truy cập: 329,922
Số người trực tuyến:
Tích lũy phúc đức cho bản thân và gia đình năm 2017
Pháp hội Đại Bi Quan Âm 2017 - Tạ đàn vào khóa Đại lễ ngày vía Đức Phật Quan Âm (tức 16/03 - 19/03/2017) tại Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên Đăng ký tham gia